TRUY CẬP ĐIỂM

truy_cap_diem

Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Đặng Đạm - 0984 344 986)

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Sắp xếp dữ liệu

    THANH TIÊU ĐỀ - ICON

    GIAO DIỆN

    len xuong

    bv

    LIÊN KẾT ĐẶC BIỆT

    Thời tiết - Tỉ giá vàng

    Ảnh ngẫu nhiên

    Picture1.gif Khom_truc.png Hinh_hoa_sen.jpg Di_Chuc_tran_Nhan_Tong.jpg Chuc_xuan.swf Images_312.jpg Diendanhaiduongcom19072_2.jpg Lam_nguoc.jpg Chao_nam_hoc_moi_loan.swf Thu_phap_tren_go.jpg F22.flv Earth_hour_is_not_turn_off_lights_and_burn_candles.jpg Trieu_bong_hongloan.swf Quy_Ty.jpg XQH.jpg Chucmungnammoi2013_ngayxuanlongphuongxumvay.swf Vui_chong.jpg Kim_Anh.jpg

    HÂN HẠNH CHÀO ĐÓN

    1 khách và 0 thành viên

    morong

    Gốc > Hán nôm và nghi lễ truyền thống >

    Thờ cúng thần linh:

     

    Bên cạnh việc thờ cúng Tổ tiên, hầu như nhà nào cũng có thờ cúng thần linh, vậy thì thần linh ở đây gồm những ai và thần hiệu là gì để nêu cho đúng khi cúng.

    a.Khi cúng tế thần linh tức là cúng một vị thần nào đó chứ không phải cúng thần linh nói chung, thí dụ như cúng ông Táo là cúng ba vị “Đông trù tư mệnh táo phủ thần quân, Thổ địa long mạch tôn thần, Ngũ phương ngũ thổ phúc đức chính thần”, cúng Thần tài là cúng hai vị “Ngũ phương ngũ thổ long thần, Tiền hậu địa chủ tài thần” v.v…Nhưng thần linh thì có rất nhiều và không ai có thể biết đủ được, vì vậy mà ông cha ta ngày xưa đã chọn một câu chung là “Hoàng thiên hậu thổ chư vị tôn thần” nhằm đảm bảo không thiếu sót bất cứ một vị thần linh nào, tránh được trường hợp những ác thần vì không được khẩn cầu mà nổi giận gây tai họa.

    Nhiều người ngày nay khi cúng thường khấn “đất đai viên trạch”, hoặc “đất đai viên trạch, bảy bà trên núi”. Tôi cũng đã tìm hiểu ở nhiều người lớn tuổi nhưng cũng chưa nhận được câu trả lời thỏa đáng. Ta biết, triều vua Minh Mạng thứ 21 (1840) mới cho thành lập các đàn tế “danh sơn đại xuyên” gọi tắt là “đàn sơn xuyên” ở kinh đô và ở các tỉnh, và đây là đàn thờ thần sông núi. Người xưa coi danh sơn, đại xuyên là mạng mạch của quốc gia, trong đó danh sơn là xương cốt, đại xuyên là máu huyết; núi lở, sông cạn là việc hệ trọng của một quốc gia, của một triều đại. Danh từ "khí thiêng sông núi" là bởi từ ý nghĩa trên mà ra. Có lẽ đất đai viên trạch cũng có ý nghĩa cúng thần linh như thế, nhưng xem hai câu khấn “Hoàng thiên hậu thổ chư vị tôn thần” và “đất đai viên trạch” thì câu trước đầy đủ ý nghĩa hơn câu sau.

    b.Kế đến là vị thần cai quản địa giới, theo phong tục xưa thì mỗi năm có ba vị thần gồm 1 chỉ huy và 2 phụ tá (1 văn, 1 võ) thay phiên nhau làm nhiệm vụ. Hàng năm cứ đến đúng giờ giao thừa là giờ thay nhiệm vụ của ba vị này, và làm lễ cúng giao thừa ngoài trời là để tiển ba vị cũ và đón ba vị mới. Thần hiệu của 36 vị thay nhau trong 12 năm như sau:

    -Năm tý: Chu vương hành khiển, Thiên ôn hành binh chi thần, Lý tào phán quan.

    -Năm sửu: Triệu vương hk, Tam thập lục phương hbct, Khúc tào pq.

    -Năm dần: Ngụy vương hk, Mộc tinh hbct, Tiêu tào pq.

    -Năm mão: Trịnh vương hk, Thạch tinh hbct, Liễu tào pq.

    -Năm thìn: Sở vương hk, Hoả tinh hbct, Biểu tào pq.

    -Năm tị: Ngô vương hk, Thiên hải hbct, Hứa tào pq.

    -Năm ngọ: Tần vương hk, Thiên hao hbct, Ngọc tào pq.

    -Năm mùi: Tống vương hk, Ngũ đạo hbct, Lâm tào pq.

    -Năm thân: Tề vương hk, Ngũ miếu hbct, Tống tào pq.

    -Năm dậu: Lỗ vương hk, Ngũ nhạc hbct, Cự tào pq.

    -Năm tuất: Việt vương hk, Thiên bá hbct, Thành tào pq.

    -Năm hợi: Lưu vương hk, Ngũ ôn hbct, Nguyễn tào pq

    c.Tiếp theo là thần cai quản địa phương là “Thành hoàng bổn cảnh” và “Các vị thần linh bản xứ” . Cũng như a. bên trên, chỉ nêu chung vì không thể nào biết hết.

    d. Những vị thần linh nêu ở a., b., c. được gọi là thần ngoại để phân biệt với thần nội là những thần linh ở ngay trong nhà. Thần nội gồm Đông trù tư mệnh táo phủ thần quân, Thổ địa long mạch tôn thần, Ngũ phương ngũ thổ phúc đức chính thần (dân gian gọi là ông Táo), và Ngũ phương ngũ thổ long thần, Tiền hậu địa chủ tài thần (dân gian gọi là Thần tài).

    e. Ở đây xin nhắc đến Tiền chủ (vị chủ đầu tiên của mãnh đất mà ta đang ở) và Hậu chủ (vị chủ đầu tiên của các mãnh đất lân cận), các vị này không là thần (trừ trường hợp được tôn làm thần, mà trong trường hợp này thì đã được nêu ở phần thần ngoại rồi) nên chỉ được nêu sau Tổ tiên mà thôi. Trong các lễ cúng tế, ta phải kính thỉnh các vị Tiền chủ, Hậu chủ; nhưng chỉ phải cúng riêng làm một lễ đối với vị Tiền chủ mà thôi (thường gọi là cúng đất đai, tất nhiên đất đai ở đây khác với câu khấn đất đai viên trạch ở trên). Đây cũng là một phong tục đẹp, phong tục “uống nước nhớ nguồn”, “ăn trái nhớ kẻ trồng cây” nhằm tri ân những người đầu tiên đã khai phá ra mãnh đất mà ta hiện đang ở ([3]).

    3.Ngày nay chúng ta nên cúng lễ Tổ tiên như thế nào? Bàn về việc hành lễ, người xưa nói “Tế như tại” nghĩa là “lễ Tổ tiên như thể Tổ tiên có trước mặt mình”. Nghi lễ đặt ra không phải chỉ để làm bổn phận với Trời, Phật, Tiên tổ, mà còn gây tác dụng trên lòng người, giúp con người hướng đến điều lành, ghi khắc trong lòng các giá trị trong truyền thống. Việc thờ cúng chỉ có tác dụng nếu các người hành lễ chú tâm tưởng niệm như thể Tổ tiên đang hiện diện trước mặt mình, hay nói một cách khác, Tổ tiên lúc nào cũng có mặt ngay ở trong mỗi người chúng ta, trong mỗi cá nhân đều có những hạt giống di truyền, những kinh nghiệm tâm linh và cả những điều mà những người đi trước ước ao mong mỏi xây dựng cho các thế hệ con cháu mai sau, những di sản đó đi theo ta suốt cuộc đời, rồi đến phiên mỗi người sẽ truyền lại cho con cháu mình.

    Người Việt Nam tin vào phúc đức, niềm tin đó khiến cho mỗi người cố gắng làm điều lành, tránh điều ác, để “làm vốn” cho con cháu đời sau được hưởng phúc hoặc ít nhất con cháu “không phải trả nợ” những lỗi lầm của ông cha. Niềm tin vào phúc đức nối kết các thế hệ với nhau, với niềm tin tưởng đó, mỗi thế hệ đều biết ơn tổ tiên vì những phúc đức tích lũy từ đời trước, rồi đến lượt chính mình cũng muốn làm điều thiện để cất đầy trong kho phúc đức chung đó. Khi một người làm điều thiện, tránh điều ác, hành động đó không phải chỉ cốt tạo ra những hậu quả tốt cho chính mình, mà còn muốn để dành phúc đức truyền lại cho con cháu.

    Niềm tin vào phúc đức khiến cho tổ tiên chúng ta không phải chỉ dùng lời nói để cầu khẩn, ước mong mà còn bằng các hành động lương hảo, từ thiện cụ thể. Tổ tiên đã dùng chính bản thân, chính cuộc đời của mình để mang lại điều lành cho con cháu. Khi hiểu như vậy, chúng ta sẽ cảm thấy một sợi dây thiêng liêng nối liền các thế hệ, nghĩ tới tổ tiên với một niềm biết ơn sâu xa. Và cũng hiểu chúng ta phải làm bổn phận của mình với các thế hệ sắp tới.

    Khi hiểu rằng trong mỗi người chúng ta không những đang mang theo các hạt giống di truyền theo sinh học, mà còn mang theo tất cả các hạt giống thiện do Tổ tiên để lại thì chúng ta dễ cảm thấy hơn sự hiện diện của tổ tiên trước mặt. Khi đó việc cử hành nghi lễ thờ cúng Tổ tiên có một ý nghĩa sâu xa hơn, và châm ngôn “Tế như tại” được thể hiện.

    Nghi lễ cúng bái Tổ tiên không cần phải phức tạp hay sang trọng. Người xưa nói “việc hành lễ mà xa xỉ thì nên kiệm ước còn hơn”. Ðể cho mọi thế hệ tham dự nghi lễ thờ cúng ông bà một cách tự nhiên, thoải mái, ta cần hành lễ theo cách nào đơn giản hơn cả, chú ý nhiều đến nội dung hơn là hình thức, như người xưa đã nói “Tang lễ mà quá chú trọng nghi tiết thì chỉ cần bày tỏ lòng thương xót còn hơn”. Ðiều cần chú ý là giản dị không có nghĩa là vội vàng, cẩu thả. Lòng thành kính phải được thể hiện ra trong hình thức bên ngoài, trong thân thể và y phục người hành lễ. Hành lễ với khung cảnh, thái độ, cử chỉ cung kính và trang nghiêm thì mới tạo được tác dụng sâu xa trong lòng người. Thờ cúng Tổ tiên với những nghi lễ giản dị, thực hành với một tấm lòng cung kính, đó là truyền lại cho các thế hệ mai sau cả một di sản văn hóa rất đáng gìn giữ của dân tộc Việt Nam.


    Nhắn tin cho tác giả
    Đặng Đạm @ 15:43 19/06/2014
    Số lượt xem: 976
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến