Minh tinh và phép viết minh tinh.
Theo Toan Ánh, tác giả cuốn Phong tục Việt Nam thì minh tinh và phép viết minh tinh được hiểu như sau: "Trước khi phát tang, có lễ lập minh tinh. Minh tinh là một thứ cờ làm biệt hiệu của người chết. Cờ ấy làm bằng lụa đỏ, có chữ tên họ cùng thuỵ hiệu và chức tước phẩm hàm của người chết, viết bằng phấn trắng; cũng có thể làm bằng lụa đỏ viết bằng vôi trắng. Minh tinh buộc vào cán bằng cành tre, dựng bên phía đông linh sàng. Trên minh tinh, sau khi viết hết chức tước, họ và tên thuỵ, bao giờ cũng có 5 chữ: "... Phủ quân chi linh cữu" cho người cha, và "... Phu nhân chi linh cữu" cho người mẹ.
Lúc viết minh tinh, phải tính số chữ theo 4 chữ: Quỷ, Khốc, Linh, Thính, đừng để chữ cuối cùng rơi vào hai chữ: Quỷ và Khốc, e có tà ma trùng quỷ, hoặc có thêm người chết..."
Như vậy đúng nhưng chưa đủ! Ở đây chúng tôi xin được nói rõ hơn:
-Lòng minh tinh được chia làm 3 dòng và được viết theo chiều dọc. Dòng ở giữa viết chữ to (thường theo lối chữ triện) là dòng dành để ghi họ tên, thuỵ hiệu, chức tước và phẩm hàm của người mất. Hai dòng nhỏ hai bên viết theo lối chữ thường; bên trái ghi ngày giờ tháng năm sinh và bên phải ghi ngày giờ tháng năm mất của người đó.
-Về phép viết minh tinh, có một quy tắc: "Nam Linh, nữ Thính, bất dụng Quỷ, Khốc nhị tự"; nghĩa là khi viết minh tinh phải tính số chữ ở dòng giữa sao cho chữ cuối cùng của dòng này (chữ Cữu) phải rơi vào đúng chữ Linh (nếu người chết là đàn ông) và chữ Thính (nếu người chết là đàn bà); không được nhầm Linh cho đàn bà, Thính cho đàn ông, và - dù là đàn ông hay đàn bà - tuyệt đối phải tránh không được để rơi vào hai chữ: Quỷ, Khốc. Nói cách khác, với người chết là đàn ông, để được chữ Linh thì tổng số chữ ở dòng giữa đem chia cho 4 phải được số dư là 3; Nếu là đàn bà, để được chữ Thính thì tổng số chữ ở dòng giữa đem chia cho 4 phải không còn dư (Nếu dư 1 là rơi vào chữ Quỷ, dư 2 là rơi vào chữ Khốc).
- Sau khi quan tài hạ huyệt, lá minh tinh được trải lên mặt áo quan rồi mới lấp đất. Đến đây, minh tinh đã mang ý nghĩa là một tấm giấy thông hành của người chết khi về thế giới bên kia…
. Về lá minh tinh của cụ Phan Thanh Giản.
Theo Toan Ánh thì lòng lá minh tinh của cụ Phan Thanh Giản có 9 chữ: Hải Nhai Lão Thư Sinh Tính Phan Chi Cữu (Nghĩa là: Linh cữu của người học trò già nơi ven biển họ Phan).
Trong bài văn tế của Thượng tân thị Phan Quốc Cang điếu cụ Phan Thanh Giản, sự kiện này cũng được nhắc đến trong câu: "… Minh tinh đề chín chữ, không thẹn mình chức lớn quan to/ Thuốc độc uống một hơi, cho khuất mắt vợ con bạn tác...".
Cụ Nguyễn Đình Chiểu trong bài thơ điếu cụ Phan Thanh Giản cũng đã gián tiếp khẳng định điều này:
NON NƯỚC TAN TÀNH HỆ BỞI ĐÂU?
DÀU DÀU MÂY BẠC CÕI NGAO CHÂU!
BA TRIỀU CÔNG CÁN VÀI HÀNG SỚ
SÁU TỈNH CƯƠNG THƯỜNG MỘT GÁNH THÂU
ẢI BẮC NGÀY CHIỀU TIN ĐIỆP VẮNG
THÀNH NAM ĐÊM QUẠNH TIẾNG QUYÊN SẦU
MINH TINH CHÍN CHỮ LÒNG SON TẠC
TRỜI ĐẤT TỪ ĐÂY BẠT (MẶC) GIÓ THU
Nhưng theo Nguyễn Duy Oanh thì lòng lá minh tinh của cụ Phan"… không phải 9 chữ mà là 11 chữ: “Đại Nam Hải Nhai lão thư sinh tính Phan chi cữu".
Vậy lòng lá minh tinh của cụ Phan Thanh Giản có 9 chữ hay 11 chữ? Để thấy việc này quan hệ như thế nào, trước hết chúng ta hãy điểm lại những mốc thời gian chính trong hồ sơ Phan Thanh Giản.
Đặng Đạm @ 15:30 19/06/2014
Số lượt xem: 3083
- Các cách gọi khác nhau giữa mừng thọ và sinh nhật (19/06/14)
- 14 điều Phật dạy (17/04/13)
- Nguồn gốc lễ Vu lan (31/08/12)
- Cách xưng hô trong văn sớ cúng cấp (01/04/12)
- Phong tục thờ Thần tài và cách cúng (01/04/12)
Các ý kiến mới nhất