Hãy luôn là giáo viên, đừng bao giờ là thợ dạy
HÃY LUÔN LÀ MỘT GIÁO VIÊN, ĐỪNG BAO GIỜ LÀ THỢ DẠY
Quan niệm dạy học của tôi là không chỉ truyền thụ kiến thức mà còn truyền ngọn lửa đam mê, lòng say mê nghề nghiệp, say mê nghiên cứu khoa học, quyết tâm phấn đấu đạt kết quả học tập tốt, rèn luyện tốt cho sinh viên. Trong thương trường xã hội chủ nghĩa có câu “khách hàng là thượng đế”, thì với tôi “sinh viên là thượng đế”. Tôi luôn coi sinh viên là trung tâm, là chủ thể của quá trình “biến đào tạo thành tự đào tạo”. Trên lớp tôi rất nghiêm khắc nên có biệt danh là “dũng sỹ diệt sinh viên”. Nhưng tôi luôn là người định hướng tích cực, nhiệt tình nhất để sinh viên phát huy tinh thần tự học, tự sáng tạo.
Nhận thức đúng lời dạy của chủ tịch Hồ Chí Minh: Giáo viên phải là tấm gương bốn mặt (tấm gương về đạo đức, tấm gương về tri thức, tấm gương về nghiên cứu khoa học, tấm gương về nghệ thuật truyền đạt) đối với người học, ngay từ khi bước vào nghề giáo viên, tôi luôn rèn luyện mình để cố gắng thực hiện ngày càng nhiều thêm các nội dung ấy trong lời dạy của Bác. Dạy nhiều, nhưng tôi luôn ý thức rằng: nếu không nghiên cứu khoa học thì mình chỉ là một thợ dạy. Vì thế mà tôi chưa bao giờ tự nghỉ ngơi nghiên cứu khoa học. Chỉ kể từ 1995 đến nay tôi đã hoàn thành đúng thời gian quy định với ba đề tài cấp Bộ đạt kết quả Tốt. Mỗi năm có ít nhất có một bài báo đăng ở các tạp chí từ Địa phương đến Trung ương.
Tôi không chỉ tự mình nghiên cứu khoa học, mà còn đòi hỏi cao ở cán bộ giảng dạy Bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, Bộ môn Triết học (mà tôi là Trưởng và Phó trưởng Bộ môn) phải luôn nêu cao tinh thần nghiên cứu khoa học. Tôi không muốn các cán bộ giảng dạy của Bộ môn tôi thành thợ dạy, mà họ phải là các giáo viên thực thụ. Dù ở cương vị nào (Cán bộ đoàn, Trưởng Ban ký túc xá sinh viên, Tổ trưởng kế hoạch 3 của trường, Giáo viên, Trưởng Bộ môn, Phó trưởng Bộ môn, Chủ tịch Công đoàn Khoa, UVBCH Hội Cựu chiến binh của trường, Tổ trưởng đảng, Chi ủy viên…) tôi luôn giữ cho mình niềm đam mê, nhiệt huyết cống hiến, ý chí quyết tâm và tinh thần không ngừng học tập “mỗi giáo viên là một tấm gương về đạo đức và nghiên cứu khoa học”.
Duyên với nghề giáo viên
Mỗi nhà giáo đều có cách đến với nghề dạy học khác nhau. Bản thân tôi khi còn học sinh phổ thông đã rất yêu nghề dạy học. Những thầy cô giáo tận tâm với nghề dạy học, là những tấm gương mà tôi không bao giờ quên là thầy Thanh (dạy chúng tôi lớp vỡ lòng, 1963-1964 ở Đơn Thạnh, Vĩnh Hòa, Vĩnh Linh), thầy Nhật (dạy chúng tôi lớp 2 và 3, 1965-1967 ở Đơn Thạnh, Vĩnh Hòa, Vĩnh Linh), thầy Quỳnh (dạy chúng tôi lớp 3 và 4, 1967-1969 ở Đại Thắng, Gia Hòa, Gia Viễn, Ninh Bình), cô Nhuận, cô Sếnh, cô Muôn (dạy chúng tôi lớp 5-7, 1969-1972 ở trường cấp II Gia Hòa, Gia Viễn, Ninh Bình), thầy Huynh, thầy Ngọc, thầy Nhàn, thầy Thành, thầy Nhân, thầy Dỉnh, cô Phúc (dạy chúng tôi lớp 8, 1972-1973 ở trường cấp III A Gia Viễn, Ninh Bình), Thầy Khớ, thầy Tương, Thầy Nhân, thầy Dực, thầy Xin, thầy Hồi, thầy Dỡn, thầy Biểu, thầy Minh, thầy Đạm, cô Hoa, cô Hường (dạy chúng tôi lớp 9 và 10, 1973-1975 ở trường cấp III A Vĩnh Linh). Những năm học cấp 2 và cấp 3 tôi thường được các thầy cô nhờ chữa bài tập các môn Toán, Lý, Hóa cho lớp của mình, vì thế tôi đã sớm mơ ước sẽ trở thành giáo viên góp phần nhỏ bé của mình trong sự nghiệp trồng người cho đất nước.
Tuy vậy, theo nguyện vọng gia đình tôi đã đãng ký vào ngành công an nhưng không được chấp nhận (vì có người cô ruột ở miềnNamchưa rõ lai lịch). Theo nguyện vọng của bố, tôi thi vào Đại học Bách khoa Hà Nội thiếu 0,5 điểm nên mới được gọi vào học tại Khoa Toán của Đại học Sư phạm Vinh (năm học 1975-1976), tốt nghiệp ngành Toán tại Đại học Sư phạm Huế 1979, rồi tốt nghiệp ngành CNXH tại Đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh năm 1988 tôi mới chính thức trở thành nhà giáo. Dạy học là nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý, nhưng với tôi có rất nhiều thử thách. Dù sao thì ở cương vị nào (cán bộ đoàn, Trưởng Ban ký túc xá sinh viên, Tổ trưởng kế hoạch 3 của trường, giáo viên, Trưởng Bộ môn, Chủ tịch Công đoàn Khoa, Ban chấp hành Hội Cựu chiến binh, Chi ủy viên…) tôi luôn giữ cho mình niềm đam mê, nhiệt huyết cống hiến, ý chí quyết tâm và tinh thần không ngừng học tập “mỗi giáo viên là một tấm gương về đạo đức và nghiên cứu khoa học”.
Ngọn nguồn đam mê cống hiến
GVC.ThS Hoàng Ngọc Vĩnh sinh ngày 08 tháng 01 năm 1954 tại Chiến khu Ba Lòng (Quảng Trị) rồi theo bố mẹ tập kết ra Vĩnh Linh tháng 10/1954. Gia đình nghèo, đông con nên 9 tuổi mới được đến trường học vỡ lòng (1963-1964). Vĩnh Linh lũy thép anh hùng với những con người giàu lòng nhân ái, đặc biệt là người dân thị trấn Hồ Xá, người dân xã Vĩnh Hòa, người dân xã Vĩnh Long, nơi gia đình tôi cư trú trong những năm chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, gia đình tôi và bản thân tôi luôn nhận được sự yêu thương, giúp đỡ tận tình của các giáo viên và bà con lối xóm. Quên sao được, những năm 1965-1967, khi gia đình tôi về sơ tán tại Đơn Thạnh (Vĩnh Hòa, Vĩnh Linh), bà con nơi đây đã nhường cho mẹ con tôi một khu vườn và tạo giúp cho mẹ con tôi một căn nhà hầm tránh bom đạn phá hoại của đế quốc Mỹ. Vì mẹ phải tần tảo chạy chợ từ 3, 4 giờ sáng giúp bố nuôi chúng tôi ăn học, nên tôi một buổi đi học, một buổi phải đỡ đần công việc nhà cho mẹ như gánh nước, chặt chuối nấu cám lợn, kiếm củi, giắt giũ, nấu cơm,.. Mỗi khi tôi đi gánh nước bà con luôn ưu tiên cho tôi có nước trước. Mỗi khi tôi ra đồng mót lúa bà con thường ném cho tôi một ít lúa để mau đầy thúng còn về chăm em. Mỗi khi tôi đội bánh đến bán ở các trận địa pháo thường được các anh bộ đội mua luôn cả thúng và bảo về nhanh để dẫn các em xuống hầm khi có máy bay… Chính bởi được sự bao bọc của những người dân quê hương thật thà, chân chất đậm nghĩa tình ấy đã sớm nhen nhóm cho thầy tình cảm với nghề dạy học. Ngọn lửa yêu nghề đó lại được thắp sáng thêm khi tôi được Đảng và Nhà nước cho ra Bắc tiếp tục học phổ thông. Các thầy cô của trường cấp I, trường cấp II xã Gia Hòa, trường cấp III A Gia Viễn, gia đình bố mẹ nuôi tôi và bà con lao động thôn Trung Chính xã Gia Hòa (Gia Viễn, Ninh Bình), các thầy cô trường cấp III A Vĩnh Linh và bà con lao động ở thôn Hòa Lộ xã Vĩnh Long (huyện Vĩnh Linh, Quảng Trị) luôn là những hình tượng cao quý, là mục tiêu phấn đấu và là ước mơ lớn lao trong cuộc đời phấn đấu trở thành giáo viên của tôi.
Ngay sau ngày miền Nam giải phóng, nước nhà thống nhất, tôi xin chuyển trường từ Đại học Sư phạm Vinh vào Đại học Sư phạm Huế. Lăn lộn với công tác đoàn và lớp phó đời sống nên kết quả tốt nghiệp Đại học Sư phạm Toán của tôi không cao, nhưng tôi vẫn được giữ lại trường để làm cán bộ đoàn chuyên trách. Sau 2,5 năm tình nguyện làm nghĩa vụ quân sự tình nguyện tại Cộng hòa dân chủ nhân Lào, trở về nhận nhiệm vụ tại Phòng Tổ chức cán bộ của Đại học Sư phạm Huế, nhưng thật ra chỉ làm kế hoạch 3 cho trường. Thật may, những năm 1980-1990, tất cả các trường Cao đẳng và Đại học ở phía Nam đều rất thiếu giáo viên lý luận Mác-Lênin, và thế là tôi làm đơn xin về Bộ môn Mác-Lênin của Đại học Sư phạm Huế, nhờ đó tôi được cử đi đào tạo giảng viên CNXHKH tại Đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh khóa 1986-1988. Từ 1988-1992 tôi giảng dạy CNXHKH cho khối khoa học tự nhiên tại Đại học Sư phạm Huế. Năm 1991, CNXH ở Liên Xô và Đông Âu tan rã, sụp đổ, để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong bối cảnh mới tôi thi vào Cao học Lịch sử triết học tại Đại học Tuyên giáo (nay là Học viện Báo chí và Tuyên truyền thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh). Năm 1994, sau khi tốt nghiệp Cao học tôi trở về giảng dạy Triết học và Lịch sử triết học cho các trường Đại học thuộc Đại học Huế. Năm 1999 và 2000, tại Hà Nội tôi tham gia hai lớp đào tạo giảng viên Tôn giáo học do Bộ Giáo dục&Đào tạo phối hợp với Viên Tôn giáo tổ chức và lớp đào tạo giảng viên Tư tưởng Hồ Chí Minh do Bộ Giáo dục&Đào tạo phối hợp với Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức, vì thế đến nay tôi chủ yếu đảm nhận giảng dạy Tư tưởng Hồ Chí Minh và Chuyên đề Tôn giáo tại các trường Đại học thuộc Đại học Huế. Cơ quan chủ quản mà tôi gắn bó với nghề dạy học lâu nhất là Khoa Lý luận chính trị trường Đại học Khoa học thuộc Đại học Huế.
Sau Đại học Sư phạm Huế, trường Đại học Khoa học Huế cũng là ngôi nhà thứ 2 quan trọng của đời tôi. Nơi đây thổi bùng niềm đam mê nhà giáo trong tôi và cũng chính từ nơi đây, tôi đã và đang từng ngày, từng giờ cống hiến tài năng, công sức vào sự nghiệp trồng người của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tại Đại học Khoa học Huế, từ tháng 10/1995-10/2005 là thạc sỹ, giảng viên chính (được công nhận giảng viên chính năm 2001) giảng dạy các học phần triết học Mác-Lênin, Lịch sử triết học, Tư tưởng Hồ Chí Minh và Tôn giáo học đại cương, Phó trưởng Bộ môn Triết học, Tổ trưởng Đảng (đến 10/2000), Tổ trưởng Công đoàn Bộ môn Triết học của Khoa Mác-Lênin; Từ 10/2005-10/2010 là thạc sỹ, giảng viên chính, giảng dạy chủ yếu học phần Tư tưởng Hồ Chí Minh và các môn chuyên ngành đào tạo cử nhân Triết học, Trưởng Bộ môn TTHCM, Phó Chủ tịch và Chủ tịch Công đoàn Khoa, Chi ủy viên Chi bộ Khoa Lý luận chính trị, UVBCH HCCB và UVBCHCĐ trường ĐHKH Huế; Từ tháng 10/2010-2/2014 là thạc sỹ, giảng viên chính, giảng dạy chủ yếu học phần Tư tưởng Hồ Chí Minh và các môn chuyên ngành đào tạo cử nhân Triết học, Phó trưởng Bộ môn Triết học, Trợ lý sau đại học Khoa Lý luận chính trị, UVBCH HCCB Trường ĐHKH Huế (đến 2012). Từ 3/2014 đến nay nghỉ hưu theo chế độ nhưng vẫn tham gia giảng dạy chủ yếu học phần Tư tưởng Hồ Chí Minh và các môn chuyên ngành đào tạo cử nhân Triết học tại Đại học Huế theo chế độ thỉnh giảng.
Đôi điều tâm huyết
Đã là giáo viên, tôi tin rằng ai cũng coi nhà trường là ngôi nhà quan trọng của đời mình. Quan trọng không chỉ vì đó là nơi ta nhận lương hàng tháng để sinh tồn, mà quan trọng hơn vì đó là nơi ta ta dốc lòng vì người học cùng với các công trình khoa học yêu thích. Nhờ đó mà năng lực, tài năng của ta được xã hội thừa nhận. Nhà trường còn là môi trường thuận lợi cho ta trực tiếp tham gia các hoạt động phong trào, đoàn thể, xã hội, qua đó không ngừng hoàn thiện mình về mọi mặt. Nhà trường là nơi ta trực tiếp thực hành dân chủ, là cơ quan trực tiếp bảo đảm, bảo vệ quyền lợi, lợi ích cho ta thông qua quá trình hoàn thành nghĩa vụ và trách nhiệm của ta với nhà trường và xã hội.
Sau hơn 16 năm công tác tại trường Đại học Sư phạm Huế, khi Đại học Huế được thành lập (1994), theo quyết định của Giám đốc Đại học Huế, tôi phải chia tay với Đại học Sư phạm Huế để về công tác tại Đại học Khoa học Huế (10/1995). Sự kiện này đúng vào thời điểm bấy giờ là một nỗi buồn lớn trong đời giáo viên của tôi. Bởi Trường Đại học Sư phạm Huế đã từng là ngôi nhà thứ hai quan trọng của đời tôi không chỉ là nơi tôi đã học tập và trưởng thành 3 năm sau ngày đất nước thống nhất, mà còn là nơi tôi đã từng có hơn 16 năm công tác sau đó. Ở đó gắn bó với đời tôi biết bao vui, buồn, hạnh phúc, khổ đau lớn lao – nhờ nó mà tôi trở nên rắn rỏi, linh hoạt, quyết đoán, biết thông cảm, chia sẻ buồn, vui, giúp đỡ đồng nghiệp và bạn bè quanh mình - làm sao quên được. Các cựu Hiệu trưởng của Đại học Sư phạm Huế (GS Nguyễn Văn Hạnh, PGS Lê Đình Phi, GS Nguyễn Thế Hữu, GS Nguyễn Xuân Tuyến), các cựu Hiệu phó Đại học Sư phạm Huế (thầy Lê Công Trình, PGS Trần Khánh Hưng, NGND Trần Bửu Lâm), các đồng nghiệp đàn anh (thầy Lê Bình, NGUT Nguyễn Văn Sung, ThS GVC Dương Quang Nay, GVC Ngô Văn Quý, Bùi Cao Tiêu,..) với tôi bao giờ cũng là những người thân như ruột thịt, họ luôn chia sẻ và định hướng cho tôi từng bước trưởng thành.
Tháng 10 năm 1995 về công tác tại Đại học Khoa học Huế, những năm tháng đầu để hội nhập không phải là điều dễ dàng đối với tôi. Khoa Mác-Lênin lúc ấy với hơn 50 cán bộ giảng dạy, đội ngũ có trình độ cao còn mỏng (4 TS, 2 ThS, 6 GVC), nhưng được sự giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi của trường, với nổ lực cao của Ban Chủ nhiệm Khoa (các TS Đoàn Đức Hiếu, TS Nguyễn Tiến Dũng, TS Thái Ngọc Tăng) Khoa đã mở được mã ngành đào tạo cử nhân và thạc sỹ Triết học. Vì thế các giáo viên của Khoa hầu như ai cũng phải đảm đương nhiều giáo án. Có những năm học tôi đã phải lên lớp tới 9 giáo án. Nghĩ lại, thấy mình “thật điên”, nhưng lại rất vui. Mới đó đã gần 19 năm trôi qua, Đại học Khoa học Huế đến lượt là ngôi nhà thứ hai quan trọng của đời tôi. Gắn bó với tôi biết bao vui buồn khôn tả. Ở tuổi 60, phải chia tay với trường – đó là điều phải đến với bất cứ người cán bộ nam nào - dù đã chuẩn bị tâm lý trước mấy năm nay, nhưng khi nghỉ hưu rồi thi thoảng tôi vẫn thấy bùi ngùi.
Có lần vợ chồng tôi bất hòa, nguyên Hiệu trưởng PGS TS Võ Duy Dần gọi tôi lên phòng Hiệu trưởng. Có người báo trước với tôi rằng thầy nóng lắm đấy. Vậy mà lần ấy, thầy nói với tôi: “Tao gọi mày lên đây không phải với tư cách Hiệu trưởng, mà với tư cách đồng hương và là hai thằng đàn ông với nhau” (thầy có thói quen xưng tao với người thân khi nói chuyện riêng). Thầy Dần không nhận ra, nhưng ngay lúc đó tôi đã khóc và thầm cảm ơn thầy nhiều lắm. Lần khác, tôi lên phòng Hiệu trưởng – lúc này là PGS TS Lê Mạnh Thạnh – hai anh em uống trà trò chuyện rất vui, anh Thạnh hỏi: “Mình muốn cậu làm công đoàn. Được không?”. Tôi trả lời: “Anh thông cảm, Vĩnh hoạt động phong trào cho vui, chứ chức vụ thì không ham hố. Anh tạo điều kiện để em làm tốt nhiệm vụ giảng dạy là quý rồi. Cảm ơn anh nhiều!”. Anh Thạnh cười bảo: “Tớ hỏi thế thôi, chứ tớ biết tính cậu rồi!”. Mới công tác cùng nhau chưa lâu, sao Hiệu trưởng lại hiểu mình nhiều đến vậy? Từ đó, tôi rất quý, thân thiết, và khâm phục anh Thạnh nhiều. Cho đến nay, nếu có dịp gặp anh, tôi vẫn thích đùa và nói thẳng với anh những điều cần nói. Dù anh rất bận – Phó Giám đốc Đại học Huế – nhưng anh vẫn dành cho tôi một ít thời gian có thể.
Ở trường Đại học Khoa học Huế hiện nay, hình như có đồng nghiệp cho tôi là người gai góc. Điều đó cũng đúng, vì tôi vốn đã là người lính hoàn thành nhiệm vụ với Tổ quốc trở về, tôi vẫn giữ tính nói thẳng, nói thật, đôi khi không làm hài lòng đồng nghiệp. Thật ra, trong sâu thẳm tôi chỉ mong vun đắp để trường không ngừng phát triển. Lúc nào, dù điều kiện gì đi nữa, tôi vẫn luôn kỳ vọng rất nhiều ở Đảng ủy và Ban Giám hiệu của Trường Đại học Khoa học Huế. Gần hai nhiệm kỳ qua, Đảng ủy và Ban Giám hiệu trường đã nổ lực nhiều lắm. Chỉ hai lần điều chỉnh tăng trần lương tối thiểu của Chính phủ, phải lo đủ và kịp thời lương và các khoản phụ cấp khác cho gần 500 cán bộ, giáo viên, công nhân, viên chức, trong khi học phí tăng không đáng kể, hầu như không tuyển được tại chức, tuyển sinh chính quy hàng năm bị giảm sút,.. đã là một thành tích rất lớn rồi! Đó là chưa nói khuôn viên trường dù chưa khang trang ngang tầm, nhưng đã đẹp hơn; Chất lượng đào tạo ngày càng được nâng cao; Mở được nhiều ngành đào tạo cử nhân, thạc sỹ, tiến sỹ mới; Mở rộng quan hệ quốc tế với nhiều nước; Các công trình nghiên cứu khoa học các cấp ngày càng nhiều, chất lượng được nâng cao; Cách thức tổ chức các Hội thảo, Hội nghị khoa học ngày càng quy củ đáp ứng chất lượng ngày càng cao,.. Mặc dù tất cả những thành tích đó là sự nghiệp chung của toàn thể cán bộ, giáo viên, công nhân, viên chức nhà trường, nhưng không thể phủ nhận những nổ lực to lớn của Đảng ủy và Ban Giám hiệu trường Đại học Khoa học Huế được.
Khi nghỉ hưu (3/2014) tôi đã có gần 35 năm công tác trong ngành GD&ĐT, trong đó có 29 năm làm thầy giáo. Đời nhà giáo của tôi đã trải qua không ít khó khăn, thử thách khi đến với nghề và cũng không ít khó khăn, thử thách trong xác định chuyên môn sở trường. Tôi đã trải qua đào tạo nhiều chuyên môn khác nhau và phải bỏ dở Nghiên cứu sinh triết học (đã hoàn thành Luận án tiến sỹ từ 2002 nhưng không bảo vệ), nhưng không vì thế mà tôi sao nhãng nghiên cứu khoa học làm ảnh hưởng chất lượng giảng dạy. Trái lại, từ 1995-2013, trừ năm học 2002-2003 xin nghỉ làm NCS và năm học 2006-2007 không đủ phiếu bầu của Hội đồng thi đua trường nên tôi không đạt danh hiệu CSTĐ cấp cơ sở, còn tất cả các năm học còn lại đều là CSTĐ cấp cơ sở, riêng năm học 2011-2012 đạt danh hiệu CSTĐ cấp Bộ.
Nhờ chăm chỉ tích lũy kiến thức chuyên môn ngay trong thời gian được đào tạo và thường xuyên trau dồi, nâng cao kiến thức chuyên môn trong quá trình giảng dạy nên trong bất kỳ tình huống, hoàn cảnh nào (trên lớp, ở cantin, qua mạng) tôi cũng bình thản, tự tin lý giải thấu đáo những thắc mắc của sinh viên về triết học, lịch sử triết học, tư tưởng Hồ Chí Minh và tôn giáo học.
Với niềm say mê nghề nghiệp và luôn nỗ lực phấn đấu không ngừng, thấm nhuần lời dạy của Bác “mỗi giáo viên là một chiếc gương bốn mặt” tôi đã rất tích cực và thường xuyên tham gia nghiên cứu khoa học ở các cấp trong nước. Với tôi, mỗi bài báo, mỗi công trình nghiên cứu khoa học là những trải nghiệm, tích lũy kiến thức, tích lũy kinh nghiệm phục vụ cho bài giảng của mình được tốt hơn.
Trong thương trường xã hội chủ nghĩa có câu “khách hàng là thượng đế”, thì với tôi “sinh viên là thượng đế”. Tôi luôn coi sinh viên là trung tâm, là chủ thể của quá trình “biến đào tạo thành tự đào tạo”. Trên lớp tôi rất nghiêm khắc nên có biệt danh là “dũng sỹ diệt sinh viên”. Nhưng tôi luôn là người định hướng tích cực, nhiệt tình nhất để sinh viên phát huy tinh thần tự học, tự sáng tạo. Đã có rất nhiều sinh viên ngành triết học từ K21 (ra trường năm 2001) đến K34 (ra trường 2014) và K35 luôn xưng hô với tôi là “bố-con”. Tâm huyết với nghề giáo, ngoài bài giảng và giải đáp thắc mắc của tôi trên lớp, hàng đêm tôi còn giảng và giải đáp thắc mắc cho sinh viên qua 2 địa chỉ email và 1 trang web cá nhân. Trên trang web cá nhân các giáo án của tôi hàng năm luôn đổi mới. Ở đó, tôi không chỉ cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản theo khung chuẩn của Bộ Giáo dục&Đào tạo, mà luôn cập nhật thông tin cho các em, đồng thời cung cấp cho các em nhiều tài liệu tham khảo khác liên quan đến môn học.
Quan niệm dạy học của tôi là không chỉ truyền thụ kiến thức mà còn truyền ngọn lửa đam mê, lòng say mê nghề nghiệp, say mê nghiên cứu khoa học, quyết tâm phấn đấu đạt kết quả học tập tốt, rèn luyện tốt cho sinh viên. Trong quá trình giảng dạy, bên cạnh những kiến thức chuyên ngành, tôi cũng thường xuyên hướng dẫn, đào tạo cho sinh viên ngành triết học của mình phát triển các kỹ năng phục vụ cho việc học và công tác sau này. Ở mỗi khóa học, với tôi luôn là những kỷ niệm khó quên với sinh viên. Đó là những chuyến đi thực tập thực tế, thực tập tốt nghiệp cả thầy và trò cùng ăn, ngủ, nghỉ và làm việc với nhau; Đó là sự sẻ chia, hỗ trợ giúp đỡ bằng cả vật chất và tinh thần cho những sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, giúp các em có điều kiện học tập và vươn lên trong cuộc sống... Chính vì thế mà tôi và các đồng nghiệp không chỉ đào tạo được các sinh viên tốt nghiệp loại giỏi, loại xuất sắc mà còn bồi dưỡng, hướng dẫn, giúp đỡ nhiều sinh viên được kết nạp vào Đảng cộng sản ViệtNam. Và trong gia đình tôi, vợ tôi, con trai, con dâu, con gái và tôi đều là những đảng viên luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ do Đảng giao phó.
Đối với mỗi giáo viên, sự trưởng thành của học sinh, sinh viên, những tình cảm yêu quý và gắn bó của họ chính là món quà to lớn mà các giáo viên nhận được trong cuộc đời dạy học của mình. Những tình cảm ấy chính là động lực để mỗi giáo viên cố gắng, phấn đấu nhiều hơn nữa, cống hiến nhiều hơn nữa cho sự nghiệp trồng người, cho niềm đam mê với nghề giáo, góp phần đào tạo những thế hệ tương lai của đất nước. Chúng tôi luôn tự hào, vui sướng vì sinh viên của mình đã có nhiều em trưởng thành đang giữ cương vị lãnh đạo ở các trường Cao đẳng, Đại học và các huyện, tỉnh khu vực miền Trung và Tây Nguyên.
CẢM TƯỞNG NHẬN “HUY HIỆU 30 NĂM TUỔI ĐẢNG”
Huế, ngày 17 tháng 1 năm 2014
Thực hiện điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam và quy định số 3-QĐ/TW ngày 31/10/2006 của Bộ Chính trị và quy định số 45-QĐ/TW ngày 01/11/2011 của Ban Chấp hành Trung ương về “Thi hành điều lệ Đảng”, thông thường hàng năm, cứ nhân dịp sinh nhật Đảng 3/2, Đảng bộ Đại học Khoa học Huế tổ chức long trọng Lễ trao Quyết định tặng Huy hiệu 30 năm, 40 năm tuổi Đảng cho các đảng viên đủ tiêu chuẩn của Đảng bộ theo quy định của Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.
Thông qua các Lễ trao Quyết định mà tôn vinh công trạng của các lớp đảng viên đi trước vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đồng thời phát động thi đua hoặc đẩy mạnh thi đua của Đảng bộ Đại học Khoa học Huế không ngừng làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao bản lĩnh chính trị cho mọi cán bộ, đảng viên; tập trung chỉ đạo, thực hiện tốt các hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong Đảng bộ. Tăng cường sự đoàn kết nhất trí trong đảng bộ, chi bộ; phát huy trí tuệ, năng lực của cán bộ, đảng viên, xây dựng đảng bộ Đại học Khoa học Huế trong sạch vững mạnh, cơ quan, đơn vị Đại học Khoa học Huế vững mạnh toàn diện, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.
Nhân dịp 3/2/2014 tôi thật vinh dự được Ban thường vụ Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế, Ban thường vụ Đảng ủy Đại học Huế, Ban thường vụ Đảng ủy Đại học Khoa học Huế trao Quyết định tặng “Huy hiệu 30 năm tuổi Đảng”. Tôi chân thành cảm ơn sâu sắc tới sự quan tâm của Đảng bộ Đại học Khoa học Huế, Ban Thường vụ Đảng bộ Đại học Huế, Ban Thường vụ tỉnh Đảng bộ Thừa Thiên Huế và Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Chân thành nhớ ơn và cảm ơn sâu sắc đến sự giúp đỡ, dìu dắt của các đảng viên bậc cha anh, sự hợp tác chí tình của các thế hệ, các đồng chí cán bộ, đảng viên từng cùng tôi công tác, học tập và rèn luyện qua các môi trường Quân đội Nhân dân Việt Nam, các trường Đại học Sư phạm Huế, Đại học Khoa học Huế mà suốt hơn 30 năm qua tôi đã lần lượt trải qua, trưởng thành, để đến hôm nay vinh dự được tổ chức Đảng các cấp trao tặng “Huy hiệu 30 năm tuổi Đảng”, đánh dấu một mốc son cuộc đời của người cộng sản.
Cảm xúc đầu tiên nhân ngày nhận “Huy hiệu 30 năm tuổi Đảng” là cảm nhận vinh dự và tự hào vì cuộc đời người cộng sản tôi đã vượt qua một chặng đường nhất định trong học tập, rèn luyện, công tác có cả hiến dâng, có cả khuyết điểm. Chặng đường đó hôm nay giúp nhớ lại một thời trẻ trung, hăng hái với đầy nhiệt huyết và sôi nổi bằng tất cả niềm tin đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, đối với Bác Hồ kính yêu mà tôi đã ra sức cống hiến cho dân tộc, cho nhân dân Việt Nam. Tôi tốt nghiệp đại học rồi nhập ngũ và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam trong quân đội nhân dân ViệtNam. Thời gian trong Quân đội Nhân dân Việt Nam anh hùng, dù chỉ là nghĩa vụ quân sự (2,5 năm 1982-1984), nhưng là môi trường đầu tiên cuộc đời tôi được thử thách, rèn luyện, học tập và công tác để trở thành đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cảm ơn nơi ấy, môi trường ấy, mãi mãi là nguồn tình cảm vô tận thắp sáng cuộc đời tâm hồn và bản lĩnh của tôi thầy giáo-người lính cách nay tròn 32 năm. Để sau này trở về trường công tác, tôi luôn hoàn thành tốt trách nhiệm, nghĩa vụ của người thầy giáo-cựu chiến binh Việt Nam.
Quá trình công tác của cuộc đời tôi đến nay, qua quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, ở mỗi một giai đoạn, thời kỳ thực tiễn khác nhau có những tác động khác nhau về tư tưởng.
Với tôi, lúc thử thách và rèn luyện trong quân ngũ là những ngày tháng nhớ nhung nhiều và gian khổ nhất của cuộc đời (nhập ngũ ngày hôm trước hôm sau đã ở tận nước bạn Lào, bố mẹ ở quê già yếu thiếu người chăm sóc, vợ trẻ công tác ở Hậu Giang lại chưa có con, v.v), nhưng cuộc sống nơi ấy hồn nhiên vô tư và đầy sự lạc quan đầy niềm tin son sắt về phía trước. Bởi bên cạnh tôi là những người lính già vững chắc về đức độ, chính trị, những chỉ huy tài ba vừa từ những chiến trận trở về.
Trước đổi mới, cùng cảnh với đồng bào cả nước, do sai lầm bởi thực hiện bao cấp khi Việt Nam chưa ngang tầm, đời sống của tôi vô cùng khó khăn thiếu thốn, nhưng lại là những chuỗi ngày đùm bọc yêu thương giúp đỡ lẫn nhau. Xung quanh, bên cạnh tôi có rất nhiều đồng chí đảng viên sống thủy chung, trong sáng, không bon chen, không đố kỵ, không ham tiền tài, không màng danh vọng, thực sự là những tấm gương sáng cho tôi noi theo. Môi trường sau khi rời quân ngũ của tôi là cuộc sống thủy chung và nghĩa tình trước sau. Môi trường đó là nguồn tình cảm ảnh hưởng tích cực tới nhân cách cuộc đời bây giờ mà tôi đã thừa hưởng, tiếp thu và phát huy.
Sau gần 30 năm đổi mới, đặc biệt từ 1995 đến nay, đời sống của nhân ta (trong đó có gia đình chúng tôi) đã sướng hơn trước đổi mới tới hơn 20 lần. Trong đẩy mạnh và tiếp tục đẩy mạnh nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, đời sống xã hội mỗi ngày một thêm hối hả, năng động, năng lực lao động, sức sáng tạo và trí tuệ của con người được khơi dậy và giải phóng mạnh mẽ, sức sản xuất được bung ra và không ngừng vươn lên, kinh tế đất nước vì thế không ngừng phát triển. Môi trường mới này đã xuất hiện ngày càng nhiều đồng chí cán bộ, đảng viên, cán bộ lãnh đạo năng động sáng tạo và quyết đoán, là những người cộng sản thực thụ, để lại dấu ấn và niềm tin cho con người trước cuộc sống đầy biến động của cơ chế thị trường. Môi trường này tiếp tục cho tôi nguồn cảm hứng, nghị lực phải công tác năng động hơn, tốt hơn, vững vàng hơn trước cám dỗ của mặt trái cơ chế thị trường.
Đổi mới là sự lựa chọn và quyết định duy nhất đúng của Đảng ta, dân tộc ta. Đó là trí tuệ, là sự lãnh đạo tài tình và sáng suốt của những người cộng sản Việt Nam từ Đại hội VI (1986) của Đảng Cộng sản Việt Nam đến nay. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới, từ NQHNBCHTW 6 khóa VIII đến Đại hội giữa nhiệm kỳ khóa IX, rồi đến NQHNBCHTW 4&5 khóa XI và bây giờ là NQHNBCHTW 8 khóa XI của Đảng Cộng sản Việt Nam, phải thừa nhận rằng đã xuất hiện nhiều đảng viên làm giảm sút niềm tin, đánh mất niềm tin đối với nhân dân, đối với nhân viên, đối với công chức và lao động. Đặc biệt là đánh mất niềm tin ngay với đồng chí, đồng đội của mình. Đến nỗi trong NQHNBCHTW 4&5 khóa XI, Đảng ta khẳng định “tham nhũng và thoái hóa biến chất về đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên là thách thức to lớn về sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đối với sự tồn vong của chế độ”.
Hôm nay được nhận “Huy hiệu 30 năm tuổi Đảng”, tôi nhớ lại chặng đường đã đi qua, vừa hài lòng và tự hào với quá khứ, nhưng cũng trắc ẩn lòng tự trọng với hiện tại. Nhân sự kiện trọng đại này của bản thân, bằng tấm lòng mình, tôi có đôi lời dãi bày như trên cùng tất cả đảng viên của Đảng bộ Đại học Khoa học Huế, lãnh đạo Đảng các cấp với mong muốn Đảng ta ở cả ba phương diện (Đường lối, Chủ trương, Chính sách; Tổ chức của Đảng; Đảng viên) tiếp tục triển khai thực hiện thắng lợi Nghị quyết Trung ương 4&5 khóa XI của Đảng Cộng sản Việt Nam gắn với tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” làm cho Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là nhân tố quyết định hàng đầu mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam như Bác Hồ đã vun đắp, xây dựng, rèn luyện và hằng mong ước.
Với bản thân, tôi hứa tiếp tục vượt qua các tác động xấu của cơ chế thị trường, phát huy hơn nữa tinh thần học tập, rèn luyện, luôn gương mẫu trong nhận thức, tư tưởng và hành động, luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ của người đảng viên trên mọi cương vị công tác; tiếp tục học tập nâng cao trình độ về mọi mặt, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, trung thành vô hạn với chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, tiếp tục đóng góp trí tuệ của mình vào sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, luôn thực hiện thắng lợi tốt và xuất sắc những nhiệm vụ được giao.
“MỖI GIÁO VIÊN MỘT TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC, TỰ HỌC VÀ SÁNG TẠO”
Dĩ nhiên không đặt mình là tấm gương sáng, nhưng tôi tự khẳng định mình đã và đang làm được gì trong cộng đồng giáo viên. Nhận thức như thế, nên nếu bài viết này có nặng về bản ngã thì mong các đồng nghiệp rộng lòng lượng thứ.
Nhận thức đúng lời dạy của chủ tịch Hồ Chí Minh: Giáo viên phải là tấm gương bốn mặt (tấm gương về đạo đức, tấm gương về tri thức, tấm gương về nghiên cứu khoa học, tấm gương về nghệ thuật truyền đạt) đối với người học, ngay từ khi bước vào nghề giáo viên, tôi luôn rèn luyện mình để cố gắng thực hiện ngày càng nhiều thêm các nội dung ấy trong lời dạy của Bác.
1. Về đạo đức:
Với sinh viên tôi luôn tự hào mình là tấm gương đạo đức cho các em. Tôi luôn giữ khoảng cách cần thiết, nhưng sinh viên chỉ sợ tôi về chuyên môn và luôn gần gũi thân mật với tôi như người trong gia đình. Bởi thế, tôi là người hạnh phúc nhất Khoa, vì được nhiều sinh viên dốc bầu tâm sự, kể cả việc đời tư của các em, để nhờ tôi định hướng. Kể từ sinh viên Triết K21 đến nay, nhiều sinh viên Triết học của tất cả các khóa đã gọi tôi bằng “Bố” rất thân thương.
Với đồng nghiệp, tôi nóng tính, thẳng thắn, nhưng luôn chan hòa, cởi mở, và cư xử đúng mực với mọi người. Tôi hay cãi, hay to tiếng là chỉ khi đụng chạm chuyên môn, nhưng trong cuộc sống thì luôn quan tâm, gần gũi, tình cảm với mọi người.
2. Về giảng dạy và nghiên cứu khoa học:
a) Về giảng dạy:
Nếu như thời gian thực tập sư phạm ở phổ thông năm 1979, với công tác giảng dạy môn toán cho lớp 10 hệ (10) và lớp 11 (hệ 12) tôi đã nhận được danh hiệu là “sinh viên có kiến thức cơ bản và phương pháp dạy tốt nhất”, thì năm 1988, lần đầu tiên đảm nhận công tác giảng dạy môn CNXHKH ở Đại học là rất khó khăn đối với tôi. Ngày đó, giáo viên hướng dẫn tập sự giảng dạy tôi nhận xét tôi dạy tốt, thì một trong các lãnh đạo của Bộ môn có dự giờ thao giảng của tôi đã nhận xét trước Hội đồng chuyên môn của Bộ môn Mác-Lênin trường ĐHSP Huế rằng: “dạy được còn khó, đừng nói là dạy tốt”.
Tôi không đem điều đó ra làm điều đố kỵ, mà tự nhủ mình phải phấn đấu nhiều hơn, cao hơn. Quyết tâm đã mang lại cho tôi thành quả, chỉ một năm sau, mặc dù không đạt được số phiếu tối đa tín nhiệm của Hội đồng thi đua Nhà trường, nhưng tuyệt đại đa số đồng nghiệp của Bộ môn Mác-Lênin trường ĐHSP Huế đã bình chọn tôi là “Giáo viên dạy giỏi”.
Từ sau khi bảo vệ xong Luận văn thạc sỹ lịch sử triết học, tôi trở thành giảng viên triết học, về công tác tại Khoa Mác-Lênin (Khoa Lý luận Chính trị) của trường ĐHKH Huế đến nay, tôi đã và đang đảm nhận dạy tương đối tốt nhiều môn học: Triết học Mác-Lênin; Lịch sử triết học Ấn Độ cổ trung đại; Triết học Phật giáo; Tôn giáo học đại cương; Chuyên đề tôn giáo; Lịch sử tư tưởng Việt Nam; Chuyên đề tư tưởng triết học Việt Nam; Tác phẩm kinh điển triết học 2; Tư tưởng Hồ Chí Minh; Chuyên đề tư tưởng triết học Hồ Chí Minh.
Liệt kê như thế, có nghĩa là tôi không phủ nhận mình dạy nhiều. Tôi chỉ phủ nhận tôi là người tham dạy. Sở dĩ tôi phải đảm đương nhiều giáo trình như vậy là do đội ngũ cán bộ giảng dạy chuyên ngành của Khoa và Bộ môn Triết học còn thiếu. Tôi đã nhiều lần kiến nghị với Bộ môn Triết học và với Khoa về việc chọn người kế cận và thay thế tôi, đảm nhận dần các môn học nói trên. Vì thế hiện nay tôi chủ yếu giảng dạy Tư tưởng Hồ Chí Minh, Lịch sử triết học Ấn Độ cổ trung đại, Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Chuyên đề tôn giáo, Giới thiệu các tác phẩm kinh điển triết học (2).
b) Về nghiên cứu khoa học:
Dạy nhiều, nhưng tôi luôn ý thức rằng: nếu không nghiên cứu khoa học thì mình chỉ là một thợ dạy. Vì thế mà tôi chưa bao giờ tự nghỉ ngơi nghiên cứu khoa học. Chỉ kể từ 1995 đến nay tôi đã hoàn thành đúng thời gian quy định với ba đề tài cấp Bộ đạt kết quả Tốt. Mỗi năm có ít nhất có một bài báo đăng ở các tạp chí từ Địa phương đến Trung ương.
Các lĩnh vực nghiên cứu khoa học của tôi gồm: Triết học Mác–Lênin; Lịch sử triết học phương Đông và ViệtNam; Tôn giáo học; Hồ Chí Minh học.
Các công trình nghiên cứu của tôi đã có mặt ở: Tập san Nghiên cứu khoa học của Khoa; Thông tin Khoa học của trường Đại học Khoa học Huế; Thông tin khoa học của Trường Đại học Phú Yên; Tập san Lý luận và thực tiễn của Trường chính trị Nguyễn Chí Thanh tỉnh Thừa Thiên Huế; Bản tin Đại học Huế; Kỷ yếu Hội nghị khoa học Đại học Huế; Kỷ yếu Hội thảo khoa học của Bảo tàng Hồ Chí Minh tỉnh Thừa Thiên Huế; Tập san khoa học và công nghệ của trường Cao đẳng công nghiệp Tuy Hòa (Phú Yên); Tạp chí Huế Xưa và Nay; Tạp chí Sông Hương; Tạp chí Khoa học của Đại học Huế; Tạp chí Sinh hoạt Lý luận; Tạp chí Khoa học Chính trị; Tạp chí Báo chí và Tuyên truyền; Tạp chí Triết học; Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo; Tạp chí Văn hóa Phật giáo Việt Nam; Diễn đàn Rất Huế của lưu học sinh và nghiên cứu sinh Việt Nam tại Nhật Bản. Tôi đã tham dự và tham luận ở 6 Hội thảo mang tầm quốc gia và 2 Hội thảo mang tầm quốc tế.
Ngoài ra, các giáo trình mà tôi đảm nhận đều đã được vi tính hóa. Bản thân đã tự lập cho mình một trang Web cá nhân: Thư viện triết học trực tuyến của Hoàng Ngọc Vĩnh đăng tải các giáo án, bài giảng, tài liệu tham khảo và các công trình nghiên cứu khoa học của tôi, đồng nghiệp, sinh viên và học viên cao học để sinh viên truy cập tham khảo trong quá trình học tập, nghiên cứu khoa học.
Tôi không chỉ tự mình nghiên cứu khoa học, mà còn đòi hỏi cao ở cán bộ giảng dạy Bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, Bộ môn Triết học (mà tôi là Trưởng và Phó trưởng Bộ môn) phải luôn nêu cao tinh thần nghiên cứu khoa học. Tôi không muốn các cán bộ giảng dạy của Bộ môn tôi thành thợ dạy, mà họ phải là các giáo viên thực thụ.
c) Một số công trình khoa học của tôi đã được công bố:
1. “Nét riêng Phật giáo Huế”, Tạp chí Huế Xưa và Nay, Hội Khoa học lịch sử Thừa Thiên – Huế, số 13 (1995) 59-66.
2. “Quan niệm của Bác Hồ về Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, Thông tin khoa học, trường Đại học Khoa học – Đại học Huế, số 10, tập 4 (1996) 90-93.
3. “Từ lý luận hình thái kinh tế-xã hội tìm hiểu quan niệm về chủ nghĩa xã hội của chủ tịch Hồ Chí Minh”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học, Bộ môn Triết học, Huế 1998, trang 48-53; Tạp chí Sinh hoạt lý luận, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Phân viện Đà Nẵng, Đà Nẵng, số 4/29 (1998) 8-10.
4. “Nét riêng Phật giáo Huế”, Tạp chí triết học, Viện triết học Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia, Hà Nội, Số 2/102 (4/1998) 41-43.
5. “Mấy suy nghĩ về tư tưởng của Nguyễn Trãi một “Tấm lòng sáng tựa Sao Khuê””, Thông tin khoa học, trường Đại học Khoa học – Đại học Huế, số 11, tập 4 (1999) 175-178.
6. “Nho giáo Trung quốc và Nho giáo ở Việt Nam”, Tạp chí Huế Xưa và Nay, Hội Khoa học lịch sử Thừa Thiên – Huế, số 35 (1999) 95-98 và 104.
7. “Mấy suy nghĩ về ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống văn hóa xã hội Huế”, Tạp chí Sông Hương, Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên – Huế, số 126 (8/1999) 56-60.
8. “Chùa Huế trong đời sống văn hóa xã hội Huế”, Tạp chí Báo chí và Tuyên truyền, Phân viện Báo chí và Tuyên truyền Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, Số 1 (1 +2 / 2000) 32-37. “Về ảnh hưởng của Phật giáo Huế trong đời sống văn hóa xã hội Huế”, Tạp chí triết học, Viện triết học, Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia, Hà Nội, Số 4 /116 (8/2000) 43-45.
9. “Từ nghị quyết Trung ương VI (lần 2) khóa VIII suy nghĩ về tư tưởng xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam của Hồ Chí Minh”, Tạp chí Khoa học Chính trị, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Phân viện thành phố Hồ Chí Minh, số 4 (2000) 4-10.
10. “Hồ Chí Minh với Đạo Phật”, Thông tin khoa học trường Đại học Khoa học – Đại học Huế, số 12, tập 3 (2001) 90-93; Tạp chí Triết học, Viện Triết học Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia, Hà Nội, số 4/131 (2002) 13-15; Tạp chí Sinh hoạt lý luận, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Phân viện Đà Nẵng, Đà Nẵng, số 1/50 (2002) 31-33, số 3/52 (2002) 31-33 và 40. Tạp chí Huế Xưa và Nay, Hội Khoa học lịch sử Thừa Thiên – Huế, số 61 (1-2/2004) 9-12.
11. “Tìm hiểu nguyên tắc “tin dân, dựa vào dân” trong chiến lược đại đoàn kết của Hồ Chí Minh”, Kỷ yếu Hội nghị Khoa học,Đại học Huế (lần thứ nhất) - Huế, tháng 4 (2002), 490-494.
12. “Phật giáo Huế trong đời sống văn hóa xã hội Huế hiện nay”, Tạp chí Sinh hoạt lý luận, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Phân viện Đà Nẵng, Đà Nẵng, số 6/67 (2004) 34-36.
13. “Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo”, Tạp chí Sông Hương, Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên – Huế, số 195 (5/2005) 10-13. Thông báo Khoa học, Trường Đại học Phú Yên, Số 3-2008, 16-20. Tạp chí nghiên cứu tôn giáo, Viện nghiên cứu tôn giáo thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Số 6 (72)/2009 tr 3-6.
14. “Ý nghĩa cơ bản của “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản””, Kỷ yếu Khoa học Khoa Mác-Lênin (Kỷ niệm 60 năm ngày thành lập nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam), Huế 2005, 160-165.
15. “Hồ Chí Minh với Công giáo ở Việt Nam”, Lý luận và Thực tiễn, Trường Chính trị Nguyễn Chí Thanh Thừa Thiên – Huế, số 5/2005 18-20; Kỷ yếu Khoa học Khoa Mác-Lênin (Huế 2006) 156-159.
16. “Về ảnh hưởng của Nho giáo ở Việt Nam”, Kỷ yếu khoa học Khoa Mác-Lênin(Đổi mới phương pháp giảng dạy các môn khoa học Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh) Huế 2006, 149-155.
17. “Khoa học công nghệ hiện đại với việc củng cố và tăng cường hệ thống quyền lực chính trị thuộc về nhân dân lao động ở nước ta hiện nay”, Kỷ yếu khoa học Khoa Mác-Lênin (Đổi mới phương pháp giảng dạy các môn khoa học Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh) Huế 2006, 139-148.
18. “Hồ Chí Minh với vấn đề đạo đức cách mạng”, Hội Khoa học lịch sử Thừa Thiên – Huế, Tạp chí Huế Xưa và Nay (Số 80 3-4/2007) 2-7.
19. “Đạo đức cách mạng do Chủ tịch Hồ Chí Minh dày công vun đắp là đạo đức suốt đời vì hạnh phúc nhân dân”, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học “Học tập, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức trong xã hội Việt Nam hiện nay” (Bảo tàng Hồ Chí Minh tỉnh Thừa Thiên Huế và Khoa Lịch sử trường Đại học Khoa học Huế) Huế 9/2007, 29-38. Lý luận và Thực tiễn (Trường Chính trị Nguyễn Chí Thanh – Thừa Thiên Huế) Kỷ niệm 118 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2008), 11-16. Thông báo Khoa học, Trường Đại học Phú Yên, Số 4/(T12)2009, 5-10.
20. “Một số ngôi chùa nổi tiếng ở Thừa Thiên Huế”, Diễn đàn “Rất Huế” của lưu học sinh, sinh viên và nghiên cứu sinh Việt Nam tại Nhật Bản, http://rathue.12.forumer.com/viewtopic.php? ngày 28/11/2007.
Năm học 2008-2009
21. “Mười năm ở Huế của Bác Hồ và tư tưởng Hồ Chí Minh”. Bản tin Đại học Huế, Số 66 tháng 7&8 năm 2008, 26-27.
22. “Mười năm ở Huế với sự hình thành và phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh”, Diễn đàn “Rất Huế” của lưu học sinh, sinh viên và nghiên cứu sinh Việt Nam tại Nhật Bản, http://rathue.12.forumer.com/viewtopic.php? ngày 29/8/2008.
23. “Phật giáo Huế một trung tâm của Phật giáo Việt Nam”, Diễn đàn “Rất Huế” của lưu học sinh, sinh viên và nghiên cứu sinh Việt Nam tại Nhật Bản, http://rathue.12.forumer.com/viewtopic.php? ngày 31/08/2008.
24. “Hồ Chí Minh với Lênin và Cách mạng Tháng Mười”, Thông tin Khoa học(Đại học Khoa học Huế) số XV, tháng 10/2008, tr 188-191.
25. “Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và dân tộc thuộc địa với sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh”, Thông tin Khoa học(Đại học Khoa học Huế) số XV,tháng 10/2008, tr 191-194.
26. “Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và dân tộc thuộc địa với sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh”, Lý luận và Thực tiễn, Trường Nguyễn Chí Thanh, Thừa Thiên Huế, Số Kỷ niệm 119 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, 5/2009, tr 27-33.
Năm học 2009-2010
28. “Đọc “Di chúc” của Bác, nghĩ về sự kiên định mục tiêu CNXH và con đường quá độ lên CNXH ở Việt Nam theo tư tưởng triết học Hồ Chí Minh”, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học(40 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh lý luận và thực tiễn), Bảo tàng Hồ Chí Minh và Khoa Lịch sử ĐHKH Huế, Huế 8/2009, tr 7-15. Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lý luận và thực tiễn, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2/2010 tr 39-57.
29. “40 năm thi đua thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thành tựu và thách thức”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học (40 năm thi đua thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh – Việt Nam một chặng đường), Khoa Lý luận Chính trị, ĐHKH Huế, NxB Đại học Huế, 9/2009, tr 125-133. Tạp chí khoa học Đại học Huế,Chuyên san Khoa học xã hội và nhân văn, Tập 66, Số 3/2011, Trang 193-206.
30. “Tư tưởng “quân sự lấy chính trị làm gốc” của Hồ Chí Minh”, Cựu chiến binh Đại học Huế (Kỷ niệm 65 năm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam 22/12/2009, 20 năm ngày thành lập Hội Cựu chiến binh Việt Nam 06/12/2009, 15 ngày thành lập Hội Cựu chiến binh Đại học Huế 15/12/2009), số 5/2009, trang 11-113.
31. “Luận cương của Lênin “về vấn đề dân tộc và dân tộc thuộc địa” quyết định bước ngoặt và sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh”, Tạp chí Khoa học Đại học Huế, Số 20(54) tháng 11-2009, trang 155-164.
32. “Hồ Chí Minh - nhà lý luận thiên tài của Đảng Cộng sản Việt Nam và Dân tộc Việt Nam”, Kỷ yếu khoa học Tọa đàm kỷ niệm 80 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Trường Chính trị Nguyễn Chí Thanh, Huế 2/2010, trang 27-36.
33. “Đọc “Di chúc” của Bác, nghĩ về sự kiên định mục tiêu CNXH và con đường quá độ lên CNXH ở Việt Nam theo tư tưởng triết học Hồ Chí Minh”, Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh lý luận và thực tiễn, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2010, tr 39-57.
34. “Phương pháp kế thừa và phát triển của Hồ Chí Minh”, Diễn đàn Rất Huế của sinh viên và nghiên cứu sinh tại Nhật Bản, http://rathue.12.forumer.com/viewtopic.php? ngày 24 tháng 2 năm 2010, và Website ĐHKH Huế 2/2010
35. Chủ tịch Hồ Chí Minh – Hiện thân rực rỡ chủ nghĩa yêu nước truyền thống của dân tộc Việt Nam, Diễn đàn “Rất Huế” của lưu học sinh, sinh viên và nghiên cứu sinh Việt Nam tại Nhật Bản, http://rathue.12.forumer.com/viewtopic.php? ngày 10/3/2010.
36. “Mấy suy nghĩ về Công đoàn tham gia đào tạo theo hệ thống tín chỉ”, Tọa đàm của Công đoàn trường Đại học Khoa học Huế về đạo tạo theo tín chỉ, 3/2010, tr 68-73
37. “Chủ tịch Hồ Chí Minh, người khai sinh nền lý luận cách mạng mới của Việt Nam”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học Kỷ niệm 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh”, 2 Khoa Lịch sử của 2 trường ĐHKH Huế và ĐHSP Huế, Huế, tháng 5 năm 2010, trang 27-37.
38. “Mấy suy nghĩ về thực trạng hộ nghèo, hộ cận nghèo và giải pháp xóa đối giảm nghèo của tỉnh Thừa thiên Huế trong giai đoạn hiện nay”, Kỷ yếu Hội nghị khoa học lần thứ III, Khoa Xã hội học, trường Đại học Khoa học Huế, tháng 5/2010, trang 28-31.
39. “Hồ Chí Minh, nhà lý luận thiên tài của Đảng Cộng sản Việt Nam”, Thông tin khoa học, Đại học Phú Yên,số 5/2010 (tháng 6/2010), trang 5-12.
40. “Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người phát huy cao nhất chủ nghĩa yêu nước truyền thống của Việt Nam”, Tập san Cựu Chiến binh Đại học Huế,Số 6-2010, trang 6-10.
Năm học 2010-2011
41. “Ý nghĩa lich sử, giá trị thời đại của bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” (cùng với Đinh Thị Phòng), Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh giá trị lý luận và ý nghĩa thời đại, Khoa Lý luận Chính trị ĐHKH Huế và Bảo tàng Hồ Chí Minh Sở VHTT&DL TTHH, nhà XB ĐHH, tháng 8-2010, trang 99-105. Nhà Xb CTQG tháng 1/2011 tr222-238, Thông tin khoa học, Đại học Phú Yên,số 6/2010 (tháng 10/2010), trang 5-12.
42. “Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1945” (cùng với Lê Thị Kim Phương), Ký yếu Hội thảo Khoa học Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh giá trị lý luận và ý nghĩa thời đại, Khoa Lý luận Chính trị ĐHKH Huế và Bảo tàng Hồ Chí Minh Sở VHTT&DL TTHH, nhà XB ĐHH, tháng 8-2010, trang 59-64. Nhà Xb CTQG tháng 1/2011 tr133-145
43. “Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước của dân, do dân và vì dân thể hiện sinh dộng triết lý về dân chủ của Người trong đời sống” Kỷ yếu các bài viết tham gia Hội thảo Kỷ niệm 65 năm thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa 2/9/1945-2/9/2010của Trường Chính trị Nguyễn Chí Thanh,Huế, 11/2010, tr 7-14.
44. “Tư tưởng Hồ Chí Minh về phụ nữ”,Tạp chí Khoa học Đại học Huế , Số 79 tháng 11&12 năm 2010, trang 41-44.
45. “Quy luật giá trị trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam”
Số lượt xem: 7329
- Những lỗi thường gặp trong công tác coi thi (07/07/13)
- Triết lý giáo dục dạy và học tích cực (09/11/12)
- Giáo viên tiếng Anh rớt như sung rụng (12/10/12)
- Kính mong các thầy cô giáo đọc và suy ngẫm, để cùng chung tay với nghề Giáo (31/08/12)
- Bài học 'vàng' dạy con gái thành công (25/08/12)
Chúc thầy luôn khỏe, hạnh phúc, mọi sự như ý!
Chúc thầy luôn khỏe, hạnh phúc, mọi sự như ý!
Thăm thầy Đạm!