TRUY CẬP ĐIỂM

truy_cap_diem

Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Đặng Đạm - 0984 344 986)

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Sắp xếp dữ liệu

    THANH TIÊU ĐỀ - ICON

    GIAO DIỆN

    len xuong

    bv

    LIÊN KẾT ĐẶC BIỆT

    Thời tiết - Tỉ giá vàng

    Ảnh ngẫu nhiên

    Picture1.gif Khom_truc.png Hinh_hoa_sen.jpg Di_Chuc_tran_Nhan_Tong.jpg Chuc_xuan.swf Images_312.jpg Diendanhaiduongcom19072_2.jpg Lam_nguoc.jpg Chao_nam_hoc_moi_loan.swf Thu_phap_tren_go.jpg F22.flv Earth_hour_is_not_turn_off_lights_and_burn_candles.jpg Trieu_bong_hongloan.swf Quy_Ty.jpg XQH.jpg Chucmungnammoi2013_ngayxuanlongphuongxumvay.swf Vui_chong.jpg Kim_Anh.jpg

    HÂN HẠNH CHÀO ĐÓN

    1 khách và 0 thành viên

    morong

    Tài liệu Đông y

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Đặng Đạm (trang riêng)
    Ngày gửi: 21h:22' 01-07-2013
    Dung lượng: 23.1 KB
    Số lượt tải: 7
    Số lượt thích: 0 người
    THUYẾT ÂM DƯƠNG

    Sự vật biến đổi không ngừng, Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái.
    Lưỡng nghi là âm và dương.
    Tứ tượng là thái âm, thái dương, thiếu âm, thiếu dương.
    Bát quái là càn, khảm, cấn, chấn, tốn, ly, khôn, đoài.
    Cơ chế của sự biến đổi không ngừng đó là sự ức chế, hỗ trợ, ảnh hưởng, nương tựa và thúc đẫy lẫn nhau… Để biểu thị sự biến hoá không ngừng và qui luật của sự biến hoá đó, người xưa đưa ra Thuyết Am dương.
    Am dương không phải là một thứ vật chất cụ thể mà là một thuộc tính mâu thuẩn nằm trong tất cả mọi sự vật . Nó giải thích các hiện tượng mâu thuẩn chi phối mọi sự biến hoá và phát triển của sự vật.
    ( Am : Tất cả những cái gì trầm tỉnh , ức chế, mờ tối, ở trong hướng xuống, lùi lại, hữu hình, lạnhlẽo, đêm tối nhu nhược, tiêu cực … Ví dụ Mặt trăng, ban đêm, Thu, Đông, Tây –Bắc, phía dưới, phía trong, lạnh….
    ( Dương : Những cái gì có tính hoạt động,hưng phấn, tỏ rõ , ở ngoài, hưứ«ng lên, tiến lên, vô hình, nóng bức , sáng chói, rắn chắc, tích cực, … Ví dụ : Mặt trời, , ban ngày, Xuân, Hè Đông-Nam, phí trên, phí ngoài, nóng , lửa …
    Cũng từ thuyết Am-Dương, đối với cơ thể con người và những bệnh tật , người xưa phân biệt như sau :
    + Trong con người : Dương là mé ngoài, sau lương, phần trên,lục phủ, khí vệ. Am là mé trong,trước ngực và bụng, phần dưới, ngũ tạng và huyết vinh.
    + Về bệnh tật : Bệnh thuộc dương thường khô khan, táo, ôn nhiệt tiến mạnh hay động cấp tinh kinh giất. Bệnh thuộc âm thường ẩm thấp, nhuận, hàn , lạnh giảm, thoái, trầm tỉnh, suy yếu, mãn tính, tê liệt…
    Am dương không những bao hàm nghĩa đối lập, mâu thuẩn mà còn bao hàm ý nghĩa nguồn gốc ở nhau mà ra, hỗ trợ ức chế lẫn nhau mà tồn tại. Không thể chỉ có âm hoặc chỉ có dương. Hình vẽ dưới đây tượng trưng cho ý nghĩa đó.
    Trong hình vẽ, âm ở trong để giữ gìn cho dương, dương ở ngoài để giúp đỡ cho âm. Trong âm có dương, trong dương có âm. Am đến cực độ sinh ra dương và ngược lại ( hàn đến cực độ sinh ra nhiệt …).

    VẬN DỤNG THUYẾT ÂM DƯƠNG TRONG Y-DƯỢC

    1. Phòng bệnh : Muốn không bị bệnh phải phòng bệnh. Muốn phòng bệnh, giữ gìn sức khoe, phải nắm vững qui luật biến hoá của thế giới tự nhiên, Ứng với sự biến hoá đó, cần phải giữ gìn sự thăng bằng giữa con người và ngoại cảnh . Mùa Xuân, mùa Hạ thì dưỡng dương khí. Mùa Thu, mùa Đông thì dưỡng âm khí.

    2. Am-dương trong cơ thể con người :
    - Thuộc dương gồm : Khí, vệ, và lục phủ (là đởm, vị, đại tràng, tiểu tràng, bàng quang, tam tiêu).
    - Thuộc âm gồm: Huyết, vinh và ngũ tạng (là tâm, can, tỳ, phế, thận).

    3. Chẩn đoán và điều trị :
    Người xưa vận dụng thuyết âm dương trong việc chẩn đoán bệnh . Khi chẩn đoán bệnh,
    Vọng : Thấy bệnh nhân mặt đỏ tươi sáng, mắt sáng ngời, da hồng nhuận thì phần nhiều thuộc chứng dương . Hơi thở yếu, tiếng nói nhỏ, yếu … thuộc chứng âm.
    Văn : Thấy bệnh nhân thở hay nói mạnh mẽ thì bệnh thuộc về dương. Tiếng nói nhỏ yếu thì thuộc âm.
    Vấn : Khi hỏi, biết bệnh nhân nóng sốt, khát nước, đại tiện bí táo thì bệnh thuộc dương. Trái lại nếu sợ lạnh, đại tiện lỏng, cân tay mát thì bệnh thuộc âm.
    Thiết : Nếu mạch phù nổi, đại, hoạt (nhanh) thì bệnh thuộc dương. Trái lại mạch trầm (sâu), vi (nhỏ), trì (chậm) thì bệnh thuộc âm.

    Khi chửa bệnh : Bệnh dương phải chửa âm, bệnh âm phải chửa dương. Nhưng cũng có khi bệnh hư nhiệt mà cho uống thuốc hàn thì thấy bệnh nhân sốt cao hơn , trường hợp này phải hiểu nóng là do âm hư, vì vậy phải bổ âm . Nếu bệnh nhân như hàn mà chữa thuốc nóng vào thì thấy rét thêm , loại rét này là do dương hư nên phải dùng thuốc trợc dương.
    (Chú ý : phép điều trị bằng châm cứu cũng vậy )
    3) Dùng thuốc :
    Trong Đông y, thuốc được chia thành
     
    Gửi ý kiến

    ↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng RAR và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT  ↓